Hòa thượng THÍCH THIỆN QUANG

Khai sơn Tổ đình Vạn Linh

(1895 – 1953)

Hòa thượng thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40, đệ tử của Hòa thượng Tổ sư Viện chủ Tổ Đình Phi Lai. Pháp danh Thích Thiện Quang, Húy Hồng Xứng

Hòa Thượng tên thật là Nguyễn Văn Xứng sinh năm 1895 tại Vồng Keo nay là ấp Tân Thuận xã Tân Bình, huyện Mõ Cày, Tỉnh Bến  Tre.

Thân sinh là Ông Nguyễn Văn Chiếu và thân mẫu là Bà Võ Thị Sáng. Sinh ra trong một gia đình phú nông nhiều đời tích đức. Ngài là con thứ 5 trong gia đình có 7 anh chị em và là con trai duy nhất trong nhà.

Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị người Pháp đô hộ, thấm thía nỗi thống khổ của người dân nô lệ, Ngài đã âm thầm tụ tập bạn bè, luyện tập võ nghệ, sau gia nhập tổ chức Thiên Địa Hội, tiền thân là tổ chức phản Thanh phục Minh của Trung Hoa vì bị đàn áp xua đuổi nên đã tị nạn sang Việt Nam và lâu ngày Việt Hóa thành tổ chức chống Pháp.

Vào thời đó, những gia đình khá giả thường bị người Pháp buộc phải tham gia làm việc trong Ban Hương Chức Hội Tề, Gia đình Ngài cũng không ngoại lệ.

Cha Ngài làm Hương Cả, tục gọi là Cả Chiếu. Bản thân Ngài làm phó Hương Quản, vì vậy mãi đến năm 24 tuổi sau khi gia đình thúc ép nhiều lần, Ngài mới lập gia đình, sau này có được hai người con, một trai một gái. Lập gia đình chưa được bao lâu, Ngài sinh bịnh, thuốc men khắp nơi không hết. Một hôm có vị sư cùng quê tu trên núi Két (Thất Sơn) về thăm. Gặp Ngài, bảo: “Muốn hết bệnh, lên núi Sư giúp!”.

Bấy giờ, năm 1918, Tổ chức Thiên Địa Hội Ngài tham gia bị lộ nên bị bắt rất nhiều,  tuy nhiên mật thám chưa lần được ra Ngài.

Một hôm trong làng có việc, Hương Quản đánh mỏ triệu tập dân chúng, Ngài đang ăn cơm nên ra trể, ông Hương quản bắt lỗi và sẵn cầm dùi nên đánh Ngài luôn. Ngài giật dùi đánh lại xong bỏ về. Sự việc xảy ra như giọt nước cuối cùng làm tràn ly, ngay hôm đó Ngài vội thu xếp gia đình khăn gói lên đường hướng về Thất Sơn, Châu Đốc lánh thân.

Tìm đến núi Két gặp được vị sư khi trước kể rõ sự tình, được Sư cho ở lại trị bệnh, sau đó học nghề thuốc. Bệnh duyên lần lần thuyên giảm. Ở đây gần gũi chư Tăng, tìm hiểu Phật Pháp. Vốn sẵn căn lành, Ngài nhận ra cảnh đời vô thường nên trong tâm nhen nhúm chí xuất trần. Thời gian sau, thấy yên ổn nên Ngài về thăm nhà rồi lại lên, suốt nhiều năm như vậy. Lần hồi, đạo tâm ngày càng kiên cố, lại thêm vị Sư khuyến khích, nhưng vì núi Két gần chợ, Phật tử thăm viếng thường xuyên nên Ngài có ý tìm nơi khác. Sau khi nghe núi Kỳ Hương có chùa Phi Lai nơi trú xứ của Hòa Thượng thượng Chí hạ Thiền, một bậc chân tu đắc đạo, giới đức tinh nghiêm đang giáo hóa, đồ chúng rất đông, nên ngài tìm đến bày tỏ nguyện vọng và được Tổ cho Quy y ở  lại công quả tập sự.

Năm 1925, đầy đủ duyên lành Ngài được Tổ cho thế phát xuất gia với Pháp danh là Thiện Quang, Huý Hồng Xưng, nhập chúng tu học. Từ đó, Ngài siêng năng tinh tấn, chuyên tâm học tập kinh luật. Ngài vốn tính tình lặng lẽ thâm trầm, thích ở nơi vắng lặng, ít người lui tới để dễ bề tu tập. Nên sau mùa an cư 1927, Ngài trình bày nguyện vọng của mình và được Tổ cho phép. Ngài lên núi Cấm tìm một nơi vắng vẻ dưới chân vồ Bồ Hông, không xa chùa Phật Lớn bao nhiêu, cất am chuyên tu.

Ngài chuyên trì Chú Đại Bi và niệm danh hiệu đức Quán Âm, thuần thục đến độ khi ngủ vẫn niệm.

Sinh thời, Ngài có những hành tung kỳ đặc mà người thường khó biết. Trong chùa, những việc lớn nhỏ Ngài thường cho biết trước hoặc huyền ký về cuộc đời Hòa Thượng mà sau này nghiệm lại rất đúng.

Ngài lại có tài trị bệnh, nhất là bệnh tà. Nhiều người bệnh chữa chạy khắp nơi không hết. Tìm đến, Ngài chữa trị rất đơn giản bằng thuốc núi,… Bệnh tà thì khuyên răn dạy bảo, khi xối nước hoặc mua dầu cúng Phật v.v… vậy mà hết bệnh.

Tiếng lành đồn xa, nên nhiều người tìm đến hoặc xin trị bệnh, học thuốc, học đạo. Rồi cảm ơn đức Ngài có người xin công quả, kẻ xin xuất gia. Am tranh chật chội, Ngài cho xây thêm chánh điện, tăng phòng, kho bếp.

Năm 1941, nhờ Phật tử phát tâm ủng hộ, Ngài cho xây dựng chùa với quy mô bề thế nhất núi lúc bấy giờ.

Năm 1945, cuộc kháng chiến chống pháp của toàn dân bùng nổ, núi Cấm vốn nơi hiểm địa nên những người yêu nước thường chọn làm căn cứ tổ chức chống Pháp.

Năm 1946, chính quyền Pháp biết được nên ra lệnh đuổi xuống núi không kể là Tăng hay tục. Vì lẽ ấy Ngài cùng đồ chúng xuống núi về ở tạm nhà một Phật tử ở Tri Tôn. Chờ xem tình hình ra sao.

Đầu năm 1947, thấy chiến trận ngày càng tăng, không hy vọng gì trở về. Hòa thượng về chùa Linh Bửu, Cầu Bông, Bình Thạnh, Sài Gòn theo lời mời của một số Phật tử. Về đây, ở trên gác Ngài cũng tinh tấn chuyên tâm tu tập không lúc nào ngừng ngớt.

Ngài 20 tháng 11 năm Quý Tỵ (1953) sau khi đi dự lễ thượng Lương cho bổn đạo về, Ngài không chịu ăn, chỉ uống nước. Thị giả dâng cơm Ngài nói: “Ăn cũng vậy, không ăn cũng vậy. Ăn chi để cho nó sạch”

Đến ngày 23, đồ chúng lo sợ, mời thầy thuốc đến xem bốc thuốc thị giả dâng thuốc Ngài cũng không uống và nói “Uống cũng vậy, không uống cũng vậy, uống chi?”

Qua ngày sau 24, bảo với đại chúng: “Mấy đứa bây chuẩn bị, sáng mốt đưa tao về” Đồ chúng tưởng Ngài muốn về núi nên thưa: “Lúc này trên núi còn lộn xộn lắm chưa về được” Ngài nói: “Thôi, mấy đứa bây có giỏi niệm Phật đua với tao”.

Từ đó, Ngài chuyên niệm Phật cùng đại chúng. Đến sáng ngày 26 tháng 11 Ngài ngồi trên giường đang cùng đại chúng niệm Phật. Sau khi niệm to đứt quảng: “Nam… Mô… A… Mi… Đà… Phật” rồi từ từ nằm ngay thẳng xuống giường như người nằm ngủ. Mọi người coi lại thì Ngài viên tịch lúc đó đúng 8 giờ 15 phút sáng ngày 26 tháng 11 Quý Tỵ (31/12/1953) trụ thế 59 tuổi.

Vì phải chờ môn đồ pháp quyến và thân nhân đến đông đủ nên đến 3 giờ chiều ngày 27/11 mới tẩm niệm mà nhục thân Hoà Thượng vẫn mềm mại da thịt như người sống. Sau đó nhục thân của Ngài được đưa về an táng sau ở Chùa Vạn Đức, Thủ Đức.

Đến năm 1985, Hoà Thượng Thiện Thành  trụ trì Tổ Đình Vạn Linh đời thứ 2, tổ chức thỉnh nhục thân Ngài về núi nhưng sự việc không thành đành đưa trở lại Thành Phố hỏa táng, tro cốt được thờ ở tháp Phổ Đồng Chùa Huệ Nghiêm – Bình Chánh.

Năm 1995 dưới sự chỉ đạo của Hoà Thượng Vạn Đức, Tổ Đình Vạn Linh được trùng tu lại. Sau khi hoàn chỉnh cơ bản khu Chánh Điện, Tháp Tổ  được tiến hành xây dựng.

Ngày 24 tháng 11 năm Mậu Dần (1998), Hoà Thượng Vạn Đức cho tổ chức thỉnh Phật lên núi, đồng thời thỉnh linh cốt Hoà Thượng Khai Sơn về làm lễ nhập tháp. Như vậy, sau đúng 45 năm, tâm nguyện của Tổ đã được viên thành. Sự Nghiệp của Ngài đã được hàng môn hạ Truyền Đăng tục diệm.

Hoà thượng Vạn Đức đã tóm cuộc đời của Ngài bằng Bốn câu thơ:

Thiện Tự nội tàng thời hản ngộ

Quang truyền ngoại hoá thế đa quy

Vạn Linh sơn trụ khai mông muội

Linh Bửu Tây Quy hiển thoại  tường

    Tạm dịch

Thiện ẩn bên trong đời ít biết

Quang độ người ngoài lắm kẻ quy

Vạn Linh ở núi khai mông muội

Linh Bửu về Tây hiển điềm lành.