Theo pháp môn Tịnh độ, trì danh niệm Phật là bước đầu của hành giả thực tập và giai đoạn thứ hai là quán tưởng niệm Phật mới là pháp chính yếu giúp chúng ta vãng sanh.
Đức Phật mở ra con đường “nan tín chi pháp” cho mình, pháp Tịnh độ đây, khó tin lắm, vì dễ quá, chỉ cần niệm Phật thôi. Thế nhưng để được nhất tâm bất loạn thì khó vô cùng, còn khó hơn thiền định nữa.
Đức Phật mở ra con đường “nan tín chi pháp” cho mình, pháp Tịnh độ đây, khó tin lắm, vì dễ quá, chỉ cần niệm Phật thôi. Thế nhưng để được nhất tâm bất loạn thì khó vô cùng, còn khó hơn thiền định nữa.
Hôm nay, tôi về đây thăm ngôi tịnh thất (Vô Y viện) của cố Đại lão HT Thích Trí Tịnh và nhân đây cũng chia sẻ với các huynh đệ một vài suy nghĩ để cùng nhau thúc liễm thân tâm và trau dồi giới, định, tuệ.
Dù Đức Phật dạy có đến 8 vạn 4 ngàn Pháp môn, nhưng tu pháp môn nào thì cũng phải tự mình nổ lực, có thế mới thành tựu đạo quả giải thoát. Chỉ duy nhất đối với pháp môn Tịnh độ ngoài tự lực ra còn có sự tha lực hộ niệm của Đức Phật A Mi Đà.
Khi đã đủ ba yếu tố thiết yếu: “Tin sâu, nguyện thiết, hạnh chuyên” thì người niệm Phật ở đời hiện tại được thân tâm an lạc, cuộc sống an nhiên tự tại, sở cầu đều được như ý.
Tịnh độ được xây dựng trên nền tảng tịnh giới, có giữ giới thanh tịnh là có Tịnh độ. Chúng ta tu các thiện pháp, các thiện pháp chính là giới. Mười phương chư Phật cũng như thế không ngoài Tịnh giới.
Chọn pháp hành trì muốn thành công phải phù hợp căn cơ, chữa bệnh được lành là thuốc hay chứ nào phải do nơi mắc rẻ. Nên con hiểu, pháp Phật dạy đều là phương diệu dược, nếu hợp cơ bệnh dù nặng ắt vẫn được lành.
May nhờ Đức Phật từ bi mở bày pháp môn Tịnh độ, chư Tổ truyền thừa, Sư trưởng chỉ dạy. Chúng ta phải nổ lực hành trì, khởi lòng tin sâu, phát nguyện tha thiết, niệm Phật chuyên cần...
Tịnh độ là pháp tu đặc biệt, một phương tiện chuyển nghiệp đặc biệt, một đường tắt đặc biệt, nếu không am tường sự vận hành tâm, cảnh và nguyện lực của Phật thì khó tin hiểu.
Pháp môn niệm Phật của chúng ta cũng là tu chỉ quán. Trong niệm Phật đường thường hay nhắc nhở mọi người “buông xả vạn duyên”, đó là “chỉ”; “đề khởi Phật hiệu”, đây chính là “quán”. Từ đó cho thấy, “chỉ quán” chính là Thiền định.
Hành Sách Đại Sư, tự là Triệt Lưu, người đời nhà Thanh, con của Tưởng Toàn Xương, một bậc lão nho ở vùng Nghi Hưng. Cha ngài là bạn phương ngoại với đức Đức Thanh Hòa Thượng, tức Hám Sơn Đại Sư.
Trí Húc Đại Sư, tự Ngẫu Ích, người đời Thanh, họ Chung, nhà ở Ngô huyện. Thân phụ thọ trì chú Đại Bi và Bạch Y, mộng thấy đức Quán Âm đại sĩ trao cho một đứa bé trai mà sanh ra ngài
Châu Hoằng đại sư, tự Phật Huệ, hiệu Liên Trì, người đời Minh, con nhà họ Trầm, ở xứ Nhân Hòa tại Hàng Châu. Năm mười bảy tuổi ngài đã được bổ làm Giáo thọ, nổi tiếng là người học hạnh kiêm toàn.
Tỉnh Thường đại sư, tự Thứu Vi, người đời Tống, con nhà họ Nhan ở Tiền Đường. Khi lên bảy, ngài gặp duyên lành xuất gia và mới mười bảy tuổi đã thọ giới cụ túc.
Diên Thọ Đại sư, tự Xung Huyền, người đời Tống, con của họ Vương ở Tiền Đường. Lúc thiếu thời, ngài thích tụng kinh Pháp Hoa, cảm đến bầy dê quỳ mọp nghe kinh.
Pháp Chiếu Đại Sư, chưa rõ là người bậc thế nào? Trong năm Đại Lịch thứ hai đời nhà Đường, hàng đạo tục được biết ngài ở chùa Vân Phong tại Hoành Châu, thường chuyên cần tu tập.